Công văn số 6138/CT-QLNT ngày 21/08/2026 về thuế giá trị gia tăng do Cục Thuế ban hành


Công văn số 6138/CT-QLNT ngày 21/08/2026 về thuế giá trị gia tăng do Cục Thuế ban hành

BỘ TÀI CHÍNH
CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 6138/CT-QLNT
V/v thuế giá trị gia tăng

Hà Nội, ngày 21 tháng 8 năm 2026

 

Kính gửi: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng.

Cục Thuế nhận được công văn số 16743/VPCQCSĐT(Đ3) ngày 03/8/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng về thuế giá trị gia tăng (GTGT). Về nội dung này, Cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 11 Luật Thuế GTGT quy định:

"Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng:

...

5. Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 11. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

1. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.

Giá trị gia tăng của vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng." "

Tại Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 quy định:

“Điều 12. Phương pháp tính trực tiếp

1. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.

Giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.

Trường hợp cơ sở kinh doanh có hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng hoạt động này để nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng."

Tại Điều 8 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định:

“Điều 8. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng thực hiện theo quy định tại Điều 11 Luật Thuế giá trị gia tăng và khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.

1. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% áp dụng đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng bạc, đá quý.

Giá trị gia tăng của vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ (-) giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.

Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán vàng, bạc, đá quý, bao gồm cả tiền công chế tác (nếu có), thuế giá trị gia tăng và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng.

Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào được xác định bằng giá trị vàng, bạc, đá quý mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế giá trị gia tăng dùng cho mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý bán ra tương ứng.

Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh giá trị gia tăng âm (-) của vàng, bạc, đá quý thì được tính bù trừ vào giá trị gia tăng dương (+) của vàng, bạc, đá quý. Trường hợp không có phát sinh giá trị gia tăng dương (+) hoặc giá trị gia tăng dương (+) không đủ bù trừ giá trị gia tăng âm (-) thì được kết chuyển để trừ vào giá trị gia tăng của kỳ sau trong năm. Kết thúc năm dương lịch, giá trị gia tăng âm (-) không được kết chuyển tiếp sang năm sau."

Tại Điều 22 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định:

“Điều 22. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý

1. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.

2. Giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng. Trong đó:

a) Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán vàng, bạc, đá quý, bao gồm cả tiền công chế tác (nếu có), thuế giá trị gia tăng và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng.

b) Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào được xác định bằng giá trị vàng, bạc, đá quý mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế giá trị gia tăng dùng cho mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý bán ra tương ứng.

3. Trường hợp cơ sở kinh doanh có hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng hoạt động này để nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.

4. Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh giá trị gia tăng âm (-) của vàng, bạc, đá quý thì được tính bù trừ vào giá trị gia tăng dương (+) của vàng, bạc, đá quý. Trường hợp không phát sinh giá trị gia tăng dương (+) hoặc giá trị gia tăng dương (+) không đủ bù trừ giá trị gia tăng âm (-) thì được kết chuyển để trừ vào giá trị gia tăng của kỳ sau trong năm. Kết thúc năm dương lịch, giá trị gia tăng âm (-) không được kết chuyển tiếp sang năm sau."

Tại khoản 4 Điều 3 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi khoản 1 Điều 13 Thông tư số 219/2013/TT-BTC quy định:

“4. Sửa đổi khoản 1 Điều 13 Thông tư số 219/2013/TT-BTC như sau:

“1. Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.

Giá trị gia tăng của vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ (-) giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.

Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán vàng, bạc, đá quý, bao gồm cả tiền công chế tác (nếu có), thuế giá trị gia tăng và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng.

Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào được xác định bằng giá trị vàng, bạc, đá quý mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý bán ra tương ứng.

Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh giá trị gia tăng âm (-) của vàng, bạc, đá quý thì được tính bù trừ vào giá trị gia tăng dương (+) của vàng, bạc, đá quý. Trường hợp không có phát sinh giá trị gia tăng dương (+) hoặc giá trị gia tăng dương (+) không đủ bù trừ giá trị gia tăng âm (-) thì được kết chuyển để trừ vào giá trị gia tăng của kỳ sau trong năm. Kết thúc năm dương lịch, giá trị gia tăng âm (-) không được kết chuyển tiếp sang năm sau"."

Căn cứ các quy định nêu trên, hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng, số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%. Giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.

Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng lấy ý kiến của Ngân hàng Nhà nước (là cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng) về hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần vàng bạc đá quý Golden Fund có theo quy định của pháp luật hay không. Trường hợp còn vướng mắc về chính sách thuế GTGT, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng lấy ý kiến Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí - Bộ Tài chính là đơn vị chủ trì xây dựng, trình các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách thuế GTGT.

Cục Thuế có ý kiến để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng biết./.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- Phó CTr Đặng Ngọc Minh (để b/c);
- Ban PC, Ban KT;
- Lưu: VT, QLNT.

TL. CỤC TRƯỞNG
TRƯỞNG BAN BAN QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN NGUỒN THU




Nguyễn Thị Thanh Hằng

 

Công văn số 6138/CT-QLNT ngày 21/08/2026 về thuế giá trị gia tăng do Cục Thuế ban hành Tải về

CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN

  • >> Công văn số 7391/CT-QLNT ngày 06/10/2026 về thời điểm lập hóa đơn do Cục Thuế ban hành 10/10/2026
  • >> Công văn số 7401/CT-QLNT ngày 06/10/2026 về thời điểm kết thúc giảm trừ gia cảnh do Cục Thuế ban hành 10/10/2026
  • >> Công văn số 7403/CT-TMĐT ngày 06/10/2026 hướng dẫn nghĩa vụ thuế đối với cá nhân cung cấp SP và DV nội dung thông tin số và tiếp thị liên kết trong TMĐT do Cục Thuế ban hành 10/10/2026
  • >> Công văn số 7403/CT-TMĐT ngày 06/10/2026 hướng dẫn nghĩa vụ thuế đối với cá nhân cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số và tiếp thị liên kết trong TMĐT do Cục Thuế ban hành 10/10/2026
  • >> Công văn số 7478/CT-QLNT ngày 08/10/2026 về nội dung của hóa đơn do Cục Thuế ban hành 10/10/2026
  • >> Công văn số 7479/CT-QLNT ngày 08/10/2026 về chính sách thuế và hóa đơn do Cục Thuế ban hành 10/10/2026
  • >> Công văn số 6078/CT-NVT ngày 20/08/2026 về đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm do Cục Thuế ban hành 29/08/2026
  • >> Công văn số 43570/HAN-QLĐ ngày 24/08/2026 thực hiện Thông tư 117/2026/TT-BTC 29/08/2026
  • >> Công văn sô 6304/QLNT ngày 25/08/2026 về chính sách và quản lý thuế do Cục Thuế ban hành 29/08/2026
  • >> Công văn số 6387/CT-QLNT ngày 27/08/2026 về kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 29/08/2026
  • G

    PHÁP LÝ
    1) NGUYỄN THỊ NGỌC MỸ 
        0902.486.836 
      0902.486.836
    2) TRẦN NHẬT KHUÊ
    3) NGUYỄN MINH TẤN 
        0919.600.836 
    _____________________
    KẾ TOÁN THUẾ
    1) NGUYỄN THỊ MỸ VUI
       
    0909.1838.36

      0909.1838.36
    _______________________
    HÓA ĐƠN, CKS
    1) LÊ THỊ NGỌC HÂN

      0919.941.836
      0919.941.836
    ______________________